Fur Elise
Ludwig van Beethoven (17 tháng 12 năm 1770 – 26 tháng 3 năm 1827) là một nhà soạn nhạc cổ điển người Đức. Phần lớn thời gian ông sống ở Wien, Áo. Ông là một hình tượng âm nhạc quan trọng trong giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Ông có thể được coi là người dọn đường (Wegbereiter) cho thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Beethoven được khắp nơi công nhận là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại và ảnh hưởng tới rất nhiều những nhà soạn nhạc, nhạc sỹ, và khán giả về sau.
FLASH PLAYER
Trong số những tác phẩm lớn của ông phải kể đến các bản giao hưởng như Eroica (giao hưởng Anh hùng ca), Giao hưởng Định mệnh, số 9, The Pastoral (Giao hưởng đồng quê), các tác phẩm cho dương cầm như Für Elise và các sonata Thống thiết (Pathétique) và Ánh trăng (Moonlight)...
Trong những tác phẩm đó thì bản Für Elise hay còn được dịch sang tiếng Anh là "For Elise" và người Việt Nam vẫn hiểu nó dưới cái tên "Thư tình gửi Elise" là bản nhạc được biết đén nhiều nhất và được ưa thích nhất của các học sinh Piano.
Qua tìm hiểu bản nhạc, có một số ý kiến được đưa ra về cái tên Elise bí ẩn, nhưng đến tận bây giờ vẫn chưa có ý kiến chắc chắn nào về tên bản nhạc. Ngoài ra còn có một số ý kiến được biết rằng trong thời gian đó ông đang phải lòng 1 cô gái tên Therese Malfatti von Rohrenbach zu Dezza, nhưng mối tình đã không có kết quả và bản nhạc Für Elise được hiểu nôm na là Für Therese và sau này được nhiều người hiểu như một bức thư tình ông viết gửi người mình yêu
Tác phẩm này được viết khi căn bệnh về thính giác của ông khá trầm trọng. Cảm xúc trong âm nhạc mà ông viết ra dường như đã hiển hiện trong đầu giờ chỉ viêc diễn tả bằng những nốt nhạc mà thôi. Quả là một thiên tài vĩ đại, thứ nhạc mà ông viết ra nó mới thực sự là âm nhạc.
Moonlight sonata
Bản sonata viết cho đàn dương cầm số 14 op. 27 No. 2 ở cung Đô thăng thứ của Ludwig van Beethoven cũng được gọi là Bản Sonata Ánh trăng (tiếng anh: Moonlight sonate , tiếng Đức: Mondscheinsonate). Beethoven đã đặt tên cho nó là Sonata quasi una Fantasia.
FLASH PLAYER
Ludwig van Beethoven viết bản sonate này dành cho cô học sinh dương cầm 17 tuổi của ông Gräfin Giulietta Guicciardi (1784–1856) vào năm 1801 và sau khi ông chết vài năm thì bản sonate được nhà phê bình âm nhạc Ludwig Rellstab đặt cho cái tên phổ biến như bây giờ, ông đã so sánh bài hát với ánh trăng trên hồ Lucerne.
Suốt cuộc đời của Beethoven, bản sonate ánh trăng là 1 bản nhạc viết cho đàn dương cầm nổi tiếng nhất của ông, giá trị của nó thể hiện bởi sự tự do trong sáng tác và những cảm xúc kì diệu đầy lãng mạn.
Romance de a'amour
Bản Romance này là một bản nhạc (hay một làn điệu) dân ca Tây Ba Nha không biết do ai sáng tác và từ bao giờ. Narciso Yepes là người đã có công chuyển soạn và chơi bản nhạc này cho nó trở nên nổi tiếng. Số là ông soạn và chơi bản này cho bộ phim “Les Jeux Interdits” (Trò Cấm - ND) cũng đặc biệt rổi tiếng của một đạo diễn người Pháp. “Les Jeux Interdits” được trình chiếu rộng rãi từ năm 1952. Từ đó trở đi, bản tình ca mà các bạn nhắc đến này đã trở thành một bản tình ca bất hủ cho những người học chơi âm nhạc cổ điển với cây guitar.
Tất cả những ai đàng hoàng, khi trình diễn hay thâu âm bản này đều đề đại loại như “Romance (Jeux Interdits)” - nghĩa là bản Tình ca trong phim “Les Jeux Interdits”. Đầy đủ hơn nữa thì phải ghi thêm cả dòng tên người soạn giả thiên tài đã quá cố là “Arr. by Narciso Yepes”.
Sau khi Narciso Yepes đã soạn và trình diễn, thâu âm w.w… và bản nhạc đã nổi tiếng quá mức nổi tiếng rồi, nhiều người cũng chơi biểu diễn thậm chí đề cả “arrangment” là họ nhưng nhiều nhất cũng chỉ thấy thêm đầu hay thêm đuôi, vẽ râu vẽ ria hay thêm intro chứ còn lại về nguyên chất làn điệu chả thấy có khác nốt cóc nào cả. Hơn thế, thường thì họ cứ hay ghi tắt, gọi tắt là “Tình ca vô danh”, hay “Tình ca Tây Ba Nha”, Romanza (Romance tiếng TBN) w.w…
FLASH PLAYER
Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ (Turkish March)
Năm 1778, nhà soạn nhạc thiên tài Mozart viết lên bản giao hưởng "Turkish march" để ca ngợi tinh thần, lòng dũng cảm của những chiến binh THổ Nhĩ Kỳ.
FLASH PLAYER
Giao hưởng số 40 (Mozart)
Giao hưởng số 40 cung Sol thứ (KV. 550) là tác phẩm của Wolfgang Amadeus Mozart được sáng tác năm 1788.
FLASH PLAYER
Ánh sáng rực rỡ của thời kỳ Cổ điển, việc sáng tác thách thức các nhạc sĩ thể hiện hiệu quả tối đa, chính là những tác phẩm giao hưởng. Một trong những viên ngọc ấy là bản symphony của Mozart, tác phẩm số 40 cung Sol thứ, K.550. Symphony này được viết vào mùa hè năm 1788, lúc Mozart ba mươi hai tuổi, chỉ trong vòng sáu tuần lễ, ông đã viết xong ba bản symphony. Và bản Symphony số 40 này đã là một trong những 3 tác phẩm viết về thể loại này nổi tiếng nhất, hoàn hảo nhất của ông
Ông bố trí nhạc cụ cho tác phẩm Symphony số 40 này với khối đàn dây tiêu biểu bao gồm violin, viola và cello, cộng thêm kép đôi contrabass (nghĩa là Đại Hồ cầm có nét nhạc giống với Hồ cầm, nhưng thấp hơn một quãng tám). Khối kèn gỗ sử dụng hai flute, hai kèn oboe và hai kèn bassoon.
Khối kèn đồng chỉ có hai french horn, và bộ gõ gồm hai bộ timpani. Không có trumpet hoặc trombone. (Mozart sử dụng kèn trombone trong các opera, nhưng không bao giờ dùng trong symphony). Cũng không có clarinet trong tổng phổ nguyên bản, về sau Mozart mới thêm vào.
Những symphony vào thời Mozart thông thường bao gồm những ba hoặc bốn chuyển hành. Chuyển hành thứ nhất, thường được ghi allegro, được trình tấu ở tốc độ nhanh, mãnh liệt và kịch tính. Chuyển hành này luôn luôn xuất hiện trong bản sônat, đôi khi có một đoạn intro ngắn.
Chuyển hành thứ nhì thường là một chuyển hành chậm, và có thể là đoạn diễn cảm trong thể loại sonata, thể loại rondo, hoặc thể loại chủ đề và biến tấu.
Chuyển hành thứ ba tiêu biểu là một minuet và trio, chơi trong tính cách duyên dáng theo nhịp ba. Đôi khi, chuyển hành này bị bỏ đi, để vào chuyển hành tiếp theo.
Chuyển hành kết thúc thông thường luôn có mặt trong thể loại sônat, nhưng cũng có thể được viết theo thể loại rondo hoặc thể loại chủ đề và biến tấu. Nó thường được chơi rất mãnh liệt, đôi khi có tính cách hài hước, và nhất là bằng một tốc độ nhanh.


Trả Lời Với Trích Dẫn




